Tự Động Hoá – Tự Động Khống Chế Động Điện

Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC

Tự Động Khống Chế Động Điện. Tự động hoá – hay còn gọi là Tự Động Khống Chế Động Điện là một hệ thống truyền động điện cho 1 thiết bị, máy công tác, thường được dùng rất nhiều loại thiết bị và khí cụ điện khác nhau. Nhờ dây dẫn điện, ta nối liền các bộ phận với nhau, tạo nên một sơ đồ điện, để thực hiện những chức năng đã cho theo một thứ tự nhất định.

1.Các loại sơ đồ thông dụng dùng để thục hiện các hệ thống điều khiển tự động truyền động điện – Tự Động Khống Chế Động Điện

Để thực hiện một hệ thống điều khiển tự động truyền động điện trong các tài liệu kỹ thuật, người ta sử dụng các loại sơ đồ khác nhau.

Các loại sơ đồ thông dụng nhất là sơ đồ nguyên lý, sơ đồ khai triển và sơ đồ láp ráp. Đối với mỗi loại sơ đồ đó, có những nguyên tác thể hiện riêng, nhưng nội dung bản chất của sơ đồ không được thay đổi.

Do vây, mục đích của mỗi loại sơ đồ trong khai thác sử dụng là khác nhau nhưng lại có thể dễ dàng từ sơ đồ này suy ra sơ đồ khác.

1.1 Sơ đồ nguyên lý – Tự Động Khống Chế Động Điện

Đây là loại sơ đồ cỏ bản, dùng thể hiện một hệ thống điều khiển tự động truyền động điện. Để xây dựng, thiết lập được một sơ đồ nguyên lý của hệ thống, căn cứ trước hết là các yêu cầu công nghệ đối với hệ thống và cấu trúc của các phần tử thiết bị điện.

Sơ đồ nguyên lý thiết lập nên, phải đảm bảo thể hiện hết nguyên lý làm việc của hệ thống cả về yêu cầu công nghệ, cả về nguyên lý hoạt động của các phần tử thiết bị điện trong sơ đồ.

Sơ đồ nguyên lý cũng như các loại sơ đồ khác trong hệ thống điều khiển tự động bằng hệ tiếp điểm( hệ rơ le công tắc tơ) sẽ khác với các hệ thống điều khiển tự động bằng các phần tử không tiếp điểm(điện tử, bán dẫn, vi mạch,…).

Đối với hệ thống dùng các phần tử có tiếp điểm, việc thể hiện sơ đồ nguyên lý được thực hiện theo các quy định cơ bản sau:

  • Các phần tử của một khí cụ điện(cuộn dây, các tiếp điểm chính, các tiếp điểm phụ) được thể hiện rải rác ở nhiều nơi, không phụ thuộc kích thước, vị trí cấu trúc thực hiện của chúng.
  • Mỗi phần tử chấp hành (nhận năng lượng điện, thiêu thụ năng lượng điên) là một tải đối với nguồn điện( cuộn dây của Rơle, cuộn dây của công tắc tơ bóng đèn, cuộn dây của máy biến áp,..) được nối vào nguồn cung cấp thông qua các phần tử đóng cắt sẽ được vẽ trên một đường nằm ngang.
  • Các đường dây nguồn cung cấp sẽ được vẽ vuông góc với các đường nằm ngang nói trên ở các đầu mút của chúng.
  • Sơ đồ nguyên lý thường được vẽ thành từng cụm theo chức năng trong hệ thống, như cụm khởi động, cụm điều chỉnh , cụm bảo vệ,… và có chú thích rõ ràng về chức năng của mỗi cụm.
  • Trên sơ đồ nguyên lý phải hạn chế tối đa sự chồng chéo nét vẽ giữa các đường dây nối.
  • Trên sơ đồ nguyên lý, các đoạn mạch, các cực nối của các phần tử phải đánh số thứ tự. Thường lấy phần tử chấp hành của mỗi đường nằm ngang làm giới hạn phân cách.
  • Các phần tử vẽ trong sơ đồ phải thực hiện theo ký hiệu quy ước và được ghi ký hiệu bằng các ký tự viết tắt theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế thống nhất.

Lưu ý:

  • Trên sơ đồ nguyên lý các phần tử chi tiết của khí cụ điện được thể hiển không xét đến tương quan vị trí không gian giữa chúng. Do vậy sơ đồ nguyên lý không thuận tiện cho việc vận hành, sử chữa, thường chỉ được dùng để nghiên cưu nguyên lý làm việc, nguyên lý hoạt động của hệ thống.
  • Hệ thống có nhiều phần tử chấp hành như trên sẽ được vẽ trên nhiều đường nằm khác nhau, sắp xếp theo thứ tự làm việc từ trên xuống dưới.
  • Một bên giới hạn đánh số lẻ(thường là các cực nối, các điểm nối bên trái phần tử chấp hành). Một bên còn lại đánh số chẵn theo thứ tự từ nguồn đi tới và tăng dần từ trên xuống dưới. Như vậy, các cực có cùng điểm nối sẽ có cùng một số thứ tự. Các cực nối bị ngăn cách bởi các phần tử đóng cắt, phần tử chấp hành sẽ có số thứ tự khác nhau.

1.2 Sơ đồ khai triển – Tự Động Khống Chế Động Điện

Sơ đồ nguyên lý chỉ dùng chủ yếu cho việc tìm hiểu nguyên lý làm việc, nguyên tắc điều khiển của hệ thống. Do vây, với những hệ thống phức tạp, khi thiết kế hoặc nghiên cứu nguyên tắc hoạt động, thường sơ đồ nguyên lý chỉ được vẽ cho những phần tử quan trọng, những phần tử có liên quan trực tiếp đến sự làm việc của hệ thống, còn những phần tử phụ hay không liên quan trực tiếp khác sẽ được lược bỏ không cần thể hiện như mạch đo lường, phần tín hiệu, thậm chí có khi cả phần bảo vệ.

Do vậy, trong sơ đồ kỹ thuật của hệ thống phải có đủ các tư liệu về hệ thống đó, cho nên phải có sơ đồ thể hiện đầy đủ mọi chi tiết, mọi phần tử của hệ kể cả các phần phụ. Sơ đồ thể hiện hệ thống như vậy gọi là sơ đồ khai triển.

Nguyên tắc thể hiện hệ thống bằng sơ đồ khai triển được thực hiện tương tự như ở sơ đồ nguyên lý.

Sơ đồ khai triển của hệ thống có tiếp điểm và hệ thống không tiếp điểm cũng có những điểm khác nhau. Do vây khi sử dụng cũng cần chú ý vận dụng cho phù hợp đối với từng hệ thống cụ thể.

1.3 Sơ đồ lắp ráp – Tự Động Khống Chế Động Điện

Sơ đồ nguyên lý, chỉ dùng để nghiên cứu, phân tích nguyên lý làm việc của hệ thống, nhằm lựa chọn, so sánh các phương án thực hiện hệ thống điều khiển khi thiết kế hoặc đánh giá chung.

Trong khi đó, việc lắp đặt hệ thống có ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp và quan trọng đến chất lượng làm việc cuả hệ thống, do vậy rất cần thiết phải có sự cân nhắc, lựa chọn cách thức lắp đặt, đồng thời phải theo đúng những tiêu chuẩn, quy định của nhà nước về lắp đặt thiết bị điện. Viêc thiết kế lắp đặt các thiết bị điện có trong sơ đồ nguyên lý, được thể hiện bằng sơ đồ lắp ráp.

Sơ đồ lắp ráp là sơ đồ thi công lắp đặt thực tế. Do đó, người thi công lắp đặt có nhiệm vụ phải thực hiện lắp đặt đúng như sơ đồ thiết kế lắp ráp đã nêu. Vì vây việc thiết kế sơ đồ lắp ráp cũng phải được cân nhắc kỹ lưỡng.

Sơ đồ lắp ráp cần thiết cho việc vận hành, kiểm tra và sửa chữa hệ thống.

Sơ đồ lắp ráp phải thể hiện được vị trí lắp đặt thực tế của các khí cụ điện, thiết bị điện, cả tiết điện dây dẫn, số liệu của các đầu nối, cả vị trí tương đối trong không gian của chúng với nhau.

Các nguyên tắc thể hiện sơ đồ lắp ráp được nêu rõ trong các quy định về lắp đặt, vận hành và hiệu chỉnh các hệ thống điều khiển tự động truyền động điện.

Sơ đồ lắp ráp
Sơ đồ lắp ráp

2. Một số quy định chung về việc thể hiển hệ thống điều khiển tự động truyền động điện -Tự Động Khống Chế Động Điện

2.1 Phương pháp thể hiện các phần tử trong sơ đồ

Đối với các phần tử trong sơ đồ chỉ được vẽ với trạng thái thường của chúng. Trường hợp đăc biệt cần thể hiện dưới trạng thái thông thường phải được ghi chú rõ ràng ngay bên cạnh ký hiệu thể hiện phần tử đó trên bản vẽ.

Trạng thái thường là trạng thái các phần tử không bị những kích thích ngoài gây sự tác động, cả về cơ, cả về điện, nhiệt,…

Trạng thái thường của các role, công tác tơ, khởi động từ kiểu điện từ, hay kiểu từ điện là trạng thái trong cuộn dây hút của chúng không có dòng điện chạy qua.

2.2 Phương pháp thể hiện mạch điều khiển, mạch động lực

Mạch động lực hay mạch chính bao gồm:

  • Mạch phần ứng của các máy điện một chiều.
  • Mạch Stato, roto của máy điện không đồng bộ.
  • Mạch ra của các bộ biến đổi động lực.
  • Các phần tử nối tiếp trong các mạch trên.

Các phần tử thuộc mạch động lực, phải được vẽ bằng nét đậm liền.

Mạch điều khiển bao gồm:

Toàn bộ các phần mạch còn lại của hệ thống, kể cả phần mạch tín hiệu hoá, đo lường kiểm tra,.. được thể hiện bằng nét mảnh.

2.3 Bảng ký hiệu các phần tử trong sơ đồ TĐKC – Tự Động Khống Chế Động Điện

Bảng ký hiệu các phần tử trong sơ đồ TĐKC

Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC
Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC
Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC
Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC
Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC
Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC
Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC
Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC
Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC
Bảng ký hiệu các phần tử sơ đồ TĐKC

Vừa rồi mình giới thiệu qua với các bạn về tự động hoá – tự đông khống chế động điện một số sơ đồ nguyên lý, sơ đồ triên khai sơ đồ lắp ráp cũng như một số ký hiệu, hy vọng có thể giúp các bạn trong quá trinh học tập và nghiên cưu.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ZALO Chat